12/14/2008

Leo thang đá, nghĩ về cái giá của sự hoang sơ…


Thứ hai, 15/12/2008, 07:00 GMT+7

“…Mà Phá Đáy là bản của những người hủi theo đúng nghĩa đen. Bấy giờ, những căn lều người hủi được dựng trên miệng một cái hố có rải sẵn vôi bột bên dưới. Chỉ chờ người bệnh kiên nhẫn tiễn đưa các khúc chân khúc tay, các sống mũi vành tai của mình xuống mồ xong; chờ đến khi những người hủi cùi hủi cụt ấy trút hơi thở cuối cùng trong căn lều cô độc, là cộng đồng phóng hoả đốt căn lều, rồi giật đổ toàn bộ tro than và người chết xuống hố vôi. Tất cả vĩnh viễn chìm đi trong câm lặng”.


Bài 1: Lý luận về đom đóm và con mò mò

Tôi viết những dòng này khi vừa nghe tiếng lao xao của mấy bà nội trợ, họ cãi nhau về cách chọn ăn gà quê thì buổi này, cứ là phải gà có con mò mò hồng đo đỏ làm ổ ở diều, ở cánh, ở đùi gà thì mới là quê xịn. Lại có người đề phòng bọn buôn diều gà nó nghiền cục son non ra nó phết vào đùi gà tam hoàng giả làm chân quê thì sao; nó nuôi cây mò mò rồi ném vào chuồng gà trước khi đi bán thì sao. Tôi cũng góp chuyện đàn bà, bàn kế làm sao phát hiện ra con mò mò thật và mò mò giả. Bởi tôi sinh ra ở bản Mường, trước khi về phố, suốt tuổi thơ, tôi đã từng ngày lại ngày còng lưng vạch thịt da ra bắt mò mò, nên sõi chuyện lắm. Những con mò mò bông tơi, khi bị cạy rù rì đi trốn chạy, tãi một màu đỏ tuế toá trên thịt da trẻ cơ hàn.

Ngó sang thấy trên vô tuyến, đài Tây người ta cũng đưa tin, ở Nhật có cả dịch vụ xem... đom đóm thu tiền. Có một toa tàu cũ kín bưng nhốt toàn đom đóm, đom đóm vẽ vằn vèo nhây những vòng lửa nguyên thuỷ vào mắt đám người bị đô thị nuốt chửng đang phải mất tiền để được chìm vào bóng đêm xưa cũ với đèn đom đóm của đất trời. Là bởi vì ở xứ sở hoa Anh Đào, hầu hết lớp người đang sống ở thành phố, cả ngày và đêm không hề có bóng tối, không có thẻo đất thừa nào chưa bị bê tông hoá ấy họ đều chưa được nhìn thấy đom đóm, trời ạ!



Những căn nhà lợp tạm giữa hoang sơ, phía sau các dãy núi quá cao và xa. Ở đó, cuộc sống bình yên,
chất lượng cuộc sống cao hơn hơn hay là tội nghiệp hơn cuộc sống văn minh?
Sự diệu kỳ của hoang sơ Phá Đáy đã làm tôi phải tự vấn như vậy nhiều lần. Ảnh: Lãng Quân



Ngẫm thế, tôi mới chợt thấy may cho mình, bởi tôi đã được sống nhiều ngày nguyên sơ với hoang sơ ở bản Phá Đáy (xã Châu Bính, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An). Phá Đáy ở giữa đại ngàn. Đứng lổm ngổm trên những nấc thang đá vượt rừng, nghe đàn bướm rừng chộn rộn bay, thấy rám rám chàn chạt bên tai toàn bươm bướm, mới thấy sợ nhỡ đâu mình quá sách vở, quá kiểu cách; mình mà đem cái nhìn của phố thị trùm lên sự thô mộc của đá, cây và suối mát nơi này. Thế thì phụ lòng người bản phong (hủi, cùi) Phá Đáy lắm. Có người cho rằng chỗ nào có vệt bánh xe tròn (với ít hoặc nhiều nan hoa) in dấu thì chỗ ấy có xã hội văn minh. Nhưng, Phá Đáy còn chưa có đường, kẽm bù (dốc núi) cao đến mức chẳng cho cả những đôi giày da, giày cao gót vượt qua được. Bởi thế mà người Thái cổ mới đặt tên vùng đất xó rừng này là Phá Đáy, Phá tức là đá, Đáy là cái thang, đường vào bản khiến người ta phải bò thấp thểnh qua những bậc thang dây bắc trên các mỏm đá. Cũng có người đọc chệch ra bằng tiếng của đồng bào người Thái là Phả Đáy, Phả là Trời, Đáy là cái thang, nghĩa là muốn vào đến bản, phải bắc thang dây vượt qua các đỉnh đá nhọn, khó khăn như tìm đường lên trời!

Tôi nghe ai đó bảo, nếu tìm được một vùng đất nguyên sơ, sống thử ở đó, người ta có thể tìm ra những lý lẽ cho một ngày mai của nhân loại, thậm chí người ta có thể thành một tình nguyện viên chiến đấu chống lại bê tông cốt thép cùng sự suy thoái môi trường ở ngôi nhà chung Trái Đất. Nghe thì thấy đại ngôn, song sau những ngày uống căng bụng nước dòng suối Nà Cao ở Phá Đáy, tôi cho rằng họ nói cũng... chí tình, chí lý. Sau cái xóm Mường xa tít dưới chân dãy Ba Vì phủ mây thiêng, trong các vùng quê “một chốn bốn nơi” của gia đình tôi, chưa có địa danh nào “được” gọi là bản cả. Đến bây giờ thì tôi thân thiết với cái bản hủi ấy quá rồi, nghĩa là tất cả bản đều biết đến tôi, đều nhớ và nhắc tên tôi; nghĩa là tôi thuộc tên, thuộc tính từng người trong cái bản ấy, từ người già cho đến thằng bé sơ sinh tên là Sầm Văn Tướng. Phá Đáy là bản nghèo của tôi từ bao giờ chẳng biết nữa.

Lần trước, để vào được Phá Đáy tôi phải mời cả ông Quyên, nguyên Chủ nhiệm HTX Châu Bính và một cán bộ tuyên giáo huyện và một công an viên xã đi cùng. Người ta bảo đường rừng ngoắt nghéo, hiểm nguy khó lường, cứ là phải cẩn tắc, chưa kể những bất trắc, ít ra là để có người cõng tôi khi kiệt sức. Bước chân đi đến bung chợt đôi giày chơi thể thao của ông trưởng ban Tuyên giáo huyện cho mượn thì bắt đầu chạm đến đất của Phá Đáy. Ông cựu chủ nhiệm HTX vân vi bàn tay trên những phiến đá dựng thành vách ngang mặt mình, giọng tiếc rẻ: "Ngày xưa chính tôi dẫn quân vào chiến đấu cả mấy tháng trời, phá đá mở đường đi bộ vào trong này, đến đầu bản thì hết tiền. Cả yến thuốc nổ cũng hết veo. Tôi muốn khắc tên công trình, khắc ngày khởi công và hoàn thành con đường đi bộ vào bản hủi này trên vách đá kia, để đánh dấu một cuộc đại cách mạng cho Phá Đáy, thế mà không có điều kiện, đến giờ vẫn chịu chết chưa… thi công tiếp tục được! Tôi cũng tiếc cho vùng đất màu mỡ dọc thung lũng núi trong này, nếu ta ngăn suối, chỗ này làm một cái ao cá thì cả huyện ăn không hết của san hào. Nhưng...". Giọng ông Quyên cứ xa xăm dần theo từng hồi thở dốc.


Đám trẻ lớn lên như cỏ. Ảnh: Lãng Quân



Nói thì bảo ngoa, trước khi từ Hà Nội vào Nghệ, tôi đã phải tập chạy, chạy từ tầng 1 lên tầng 6 của cơ quan để cơ bắp người đi công tác bằng mông (ngồi xe) nó quen dần với cảnh chân đất luồn rừng hết ngày nọ qua ngày kia. Kinh nghiệm cho thấy, nếu đột nhiên anh đi đường leo núi, chân người ở phố lâu ngày nó sẽ cứng, nhức và chỉ có nước ngồi... khóc giữa đường. Tại vách núi cuối cùng trước khi bò qua những dãy cọc ken dày chống lợn rừng phá nương và chiếc cổng cao vọi đề phòng trâu phá lúa của Phá Đáy, ông Quyên đã ngồi bần thần trước những súc gỗ lớn xếp ngổn ngang dọc bờ suối bảo: "Gỗ còn nằm vô chủ ở đây, là bởi trâu kéo không vào được đến nơi, chứ ra đến bên kia kẽm, bao nhiêu gỗ trâu nó cũng kéo ra xưởng được, ở ngoài ấy, giá của một súc gỗ thế này suýt soát bằng giá một con trâu đấy!". Hoá ra, cái cứu rỗi Phá Đáy của tôi khỏi sự xâm hại của những tên phá rừng láu cá không đơn giản là sự chưa xuất hiện của những vệt bánh xe tròn, vệt bánh xe bơm hơi có ít nhiều nan hoa; mà hơn thế, những khối đã xây thành quách ngăn đàn trâu đực tha gỗ từ rừng về xưởng đã cứu Phá Đáy. Những “đồ nghề” của bọn lâm tặc cũng đơn giản, tôi chụp được bức ảnh buồn: trên chiếc xe cải tiến bằng gỗ cũ kỹ, một cái nồi nhôm ngoang nghếch đen nhẻm, méo sẹo, một cái nón mê rách bời bời úp hờ lên miệng cái nồi không thấy vung đâu! Rừng vắng, hoa dại cứ nở vàng rực các lối mòn, những cành cây tươi còn thơm mùi nhựa sống. Rừng bị xẻ thịt, thịt rừng còn tươi vương trên lớp cỏ nhàu. Nhưng tịnh không thấy một bóng người. Chắc họ đã cầm dao cầm cưa máy hay cung nỏ gì đó đi tìm cây gỗ lớn hơn để hạ?

Lần ấy, tình cờ tôi phát hiện ra cô bé con người hủi ở trại phong Quỳnh Lập tình nguyện vào Phá Đáy dạy học cho trẻ em bản hủi. Hơn 6 năm trôi qua, với trình độ... hết cấp 2, cô là vẫn giữ kỷ lục là người đầu tiên và duy nhất mang được cái chữ qua rừng qua vách đá vào dạy cho trẻ em Phá Đáy, dạy không ăn lương, dạy không cần trường lớp. Bản vốn là nơi trú chân của những người bệnh phong (hủi) mang nặng mặc cảm bị xã hội ruồng rẫy, họ dạt vào góc rừng này, góc rừng khác rồi tụ cả vào thung lũng Phá Đáy, dân gian gọi quen là “bản hủi”. Mà Phá Đáy là bản của những người hủi theo đúng nghĩa đen. Bấy giờ, những căn lều người hủi được dựng trên miệng một cái hố có rải sẵn vôi bột bên dưới. Chỉ chờ người bệnh kiên nhẫn tiễn đưa các khúc chân khúc tay, các sống mũi vành tai của mình xuống mồ xong; chờ đến khi những người hủi cùi hủi cụt ấy trút hơi thở cuối cùng trong căn lều cô độc, là cộng đồng phóng hoả đốt căn lều, rồi giật đổ toàn bộ tro than và người chết xuống hố vôi. Tất cả vĩnh viễn chìm đi trong câm lặng.



Tôi đã sống ở bản làng này, những ngày và những đêm. Bà cụ gom gỗ lạt lại, đóng một cái ô
đựng đất tít trên cao đầu nhà sàn. Bà bỏ đất vào đó trồng rau cỏ, hành tỏi, trồng cả cây thuốc lào.
Lúc mưa gió, cứ bứt lá thuốc lào, cuộn lại thành gói, châm lửa hút để... chống lạnh.
Đàn ông, đàn bà ở đây đều nghiện thuốc lào. Họ sống hồn nhiên như như mây và núi. Ảnh: Lãng Quân



Cho đến bây giờ, sau nhiều nhiều năm tồn tại, bản vẫn chỉ tự cung tự cấp hơn chục nóc nhà và 60 khẩu! Trưởng bản Lò Thái Bình mới 47 tuổi mà già như một ông cụ, mới cất được căn nhà trị giá... 3 triệu đồng, ông mừng ra mặt, rượu cần ủ men lá theo bí kíp của bản Thái cứ uống thun thút, chúng tôi làm veo cả một xô nước rợn rêu xanh vừa xách ở suối về rồi “chiêu” thẳng vào hũ rượu (ở đây chưa bao giờ có khái niệm về cái giếng). Hôm ấy, khi tính dân số của bản, ông Bình bấm đốt ngón tay nói bằng tiếng Kinh: “Thằng Cáng mới đẻ ra đứa con đặt tên là Tướng, thế là đúng 60 người; cái thằng Hoài người xã Châu Thuận đến lấy con Thu rồi ở rể, hai đứa mới ra ở riêng một nhà thế là thành 12 hộ!”.

Thực ra, số người là con cháu của người bệnh phong hiện nay vẫn còn nguyên ở Phá Đáy, có điều họ không mang trong mình vi khuẩn Hansen (vi khuẩn bệnh phong-hủi), bởi đơn giản là căn bệnh này không di truyền. Tuy nhiên, mặc cảm và sự tự xa lánh cộng đồng của họ vẫn phần nào còn lại. Mấy căn nhà đầu xóm, cả căn nhà ở bản Trạo, ngày xưa là nơi người bị bệnh phong nặng nằm chết ở đó, giờ cũng không còn dấu tích gì nữa. Mấy người bị bệnh phong của huyện (có người gốc Phá Đáy) giờ cũng đã được trung tâm y tế phát hiện, chuyển ra trại phong ngoài Quỳnh Lập. Xã cũng đã nhiều lần vận động bà con bỏ cái thung lũng biệt lập trong xó núi này đi để ra ngoài bìa rừng định cư "xây dựng kinh tế mới"; nhưng bà con đã gắn bó với đất này, hai nữa, mong muốn của cán bộ là vậy, chứ lòng người Phá Đáy thì sao, hình như người ta vẫn chưa hiểu thấu. Thế là cứ di ra xã một thời gian, bà con lại di vào… “hốc núi”! Nhà ông Tân, nhà bà Tuyên, thậm chí còn bỏ cả bản di tít vào trong thung lũng Trắm Cũ, sâu hơn trong rừng để sống, sống ở đâu thì họ cũng vẫn nghèo, cái họ cần hơn là một sự yên thân, yên phận trong mặc cảm nặng nề của mình (hiện nay ở cánh đồng tít trong rừng sâu kể trên nghe nói vẫn còn hai hộ sống biệt lập trong đó).

Nên hiểu, sự mặc cảm này, đôi khi là một sự thực... trong lành. Hầu hết các gia đình ở Phá Đáy hiện nay, họ đã từng sống ở bản Trạo, bản Luồng, hay ở ngoài xã Châu Bính, nhưng cuối cùng, năm năm hay mười năm sau bà con lại quay lại chốn cũ. Cái cộng đồng hơn một chục nóc nhà hiện nay đang ổn định và sự đi lên ngay từ mảnh đất thân thuộc này vẫn có vẻ có lý hơn.

(Sau cái chuyến đầu tiên tôi về Phá Đáy và viết báo, rồi kiến nghị cơ quan chức năng, có khoảng 400 triệu VNĐ đã được các nhà hảo tâm cùng một số tổ chức nước ngoài chung tay xây dựng cơ sở hạ tầng, giúp đỡ bà con ở “vùng đất bị lãng quên” Phá Đáy. Bà con vui lắm, nhưng vẫn một mực giữ cho mình cái sự hoang sơ từ bao đời, ở thung lũng mờ sương thương mến đó).

(còn nữa)

Bút ký của Đỗ Lãng Quân

Không có nhận xét nào:

Anh Hoat Dong

Anh Hoat Dong

Người đóng góp cho blog